Đặt câu hỏi
Thông tin cá nhân
Câu hỏi
Chuyên mục hỏi đáp
Câu hỏi
Giải pháp hoàn hảo trừ cỏ hại lúa gieo thẳng (sạ)
Người gửi: Bác Huy - Yên Thành, Nghệ An hỏi: Tôi thấy cửa hàng nói Công ty có sản phẩm combo trừ cỏ lúa hiệu quả lắm nên tôi muốn hỏi chi tiết về sản phẩm này - 10/09/2021
Trả lời

Trả lời: Cảm ơn bác Huy. Về combo sản phẩm trừ cỏ cho lúa gieo thẳng của Công ty xin bác đọc bài viết sau:

Video combo 1

Video combo 2

GIẢI PHÁP HOÀN HẢO

TRỪ CỎ CHO LÚA GIEO THẲNG (LÚA SẠ)

Cây lúa bị cỏ dại cạnh tranh về nhiều mặt: ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng, vì vậy diệt cỏ dại càng sớm càng giúp cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất cao. Từ xa xưa, người nông dân đã đúc kết "công trồng là công bỏ, công làm cỏ là công ăn". Qua hàng loạt thử nghiệm trên đồng ruộng, Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương nghiên cứu ra 2 combo sản phẩm hoàn hảo:

 

Combo 1: Cặp đôi “2 TRÂU ĐEN + BÒ ĐỎ” = New Heco 600EC + Fenrim 18.5WP. Sự phối trộn hoàn hảo này giúp bà con nông dân quản lý cỏ dại đạt hiệu quả cao trên ruộng lúa gieo thẳng.

Combo cặp đôi “2 Trâu đen + Bò đỏ” trừ nhiều loài cỏ dại lá rộng, cỏ lác, cỏ lá hẹp hàng năm thường gặp trên ruộng lúa ở nước ta như: cỏ lác, cỏ lác mỡ (Cyperus spp), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa colonum), cỏ lồng vực nước (Echinochloa crusgalli), cỏ chát (Fimbristylis miliacea), cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis), cỏ vảy ốc (Rotala indiea), cỏ mần trầu (Eleusine indiea), cỏ rau mác (Monochoria vaginalis)…

 

Vì sao cặp đôi này trừ cỏ hoàn hảo ?

Cặp đôi này là hỗn hợp của 4 hoạt chất:

 

1. Hoạt chất Butachlor

Butachlor là thuốc trừ cỏ chọn lọc thuộc nhóm acetanilide, được sử dụng cho cả giai đoạn tiền nảy mầm và hậu nảy mầm. Cơ chế diệt cỏ là ức chế quá trình quang tổng hợp protein, tổng hợp RNA và tổng hợp lipid của tế bào lá cỏ dại. Butachlor ức chế các enzym chịu trách nhiệm cho quá trình vòng hóa geranylgeranyl pyrophosphat và tổng hợp chuỗi axid béo trong thực vật.

Thuốc được dùng trước khi cỏ mọc để trừ cỏ lá hẹp và một số cỏ lá rộng cho lúa gieo thẳng (sạ) và lúa cấy. Thuốc ít độc với lúa, mỳ, mạch, bông, lạc và nhiều cây họ cải.

2. Hoạt chất Bensulfuron-methyl

Bensulfuron-methyl là thuốc trừ cỏ chọn lọc. Hoạt chất khuyếch tán nhanh chóng trong nước, được rễ và lá cây cỏ hấp thụ, sau đó được lưu dẫn đến các bộ phận khác của cây cỏ, ngăn cản quá trình sinh tổng hợp axit amin làm cho cỏ dại mẫn cảm ngừng sinh trưởng, các mô non bị vàng. Bensulfuron-methyl kiểm soát hiệu quả cỏ lá rộng hàng năm và lâu năm trên ruộng lúa.

Bensulfuron- methyl dùng trừ cỏ lá rộng, một số cỏ lá hẹp trong ruộng lúa khi lúa có 1 – 3 lá mầm; không gây hại lúa và ảnh hương xấu đến đất, nước.

 

3. Hoạt chất Propisochlor.

Propisochlor thuộc nhóm chloroacetamide. Thuốc kìm hãm sự phân chia tế bào và sự kéo dài rễ bằng cách ngăn cản quá trình sinh tổng hợp protein và các chuỗi acid béo. Propisochlor là thuốc trừ cỏ chọn lọc, tiền và hậu nảy mầm sớm; được hấp thụ qua trụ dưới lá mầm, trụ gian lá mầm, lá bao mầm, rễ và rễ thứ cấp của mầm cây; tích luỹ trong các bộ phận sinh dưỡng nhiều hơn là các cơ quan sinh sản, phần nào được giữ lại ở mầm rễ. Thuốc trừ được nhiều loài cỏ lá rộng, cói lác và cỏ lá hẹp hàng năm trên ruộng lúa cấy và lúa gieo thẳng (sạ), ngô, bông, mía, khoai tây, lạc, đậu tương, rau, cây ăn quả, cây cảnh và nhiều cây trồng khác. Thuốc có thể hỗn hợp với một số thuốc trừ cỏ khác. Trong cây ngô, men glutation transferasa có tác dụng phân giải thuốc nhanh, nên không bị gây hại.

4. Chất an toàn Fenclorim.

Cuối cùng chất quan trọng nhất trong combo là Fenclorim có tác dụng bảo vệ an toàn cho cây lúa. Chỉ có cây lúa mới hấp thụ được Fenclorim, còn các loài cỏ dại không hấp thụ được. Khi được cây lúa hấp thụ qua rễ mầm, Fenclorim phân giải hoạt chất trừ cỏ do đó không tác hại tới mầm non của lúa. Người ta còn nhận thấy Fenclorim tạo ra một lớp bao bọc điểm sinh trưởng của cây lúa, làm cho các hoạt chất trừ cỏ không gây hại cho cây lúa.

Combo 2: Cặp đôi “TRÂU ĐEN + BÒ ĐỎ” = Prefit 300EC + Fenrim 18.5WP. Cặp đôi này cũng gồm 4 hoạt chất, gồm: Pretilachlor, Propisochlor, Bensulfuron – methyl và Fenclorim.

 

Hoạt chất Pretilachlor.

Pretilachlor là thuốc trừ cỏ chọn lọc, dùng trước hay ngay sau khi cỏ mọc.

Pretilachlor có đặc tính kìm hãm không cho tế bào cây cỏ phân chia, làm cho cây cỏ ngừng sinh trưởng và chết. Khi được cây cỏ hấp thụ, thuốc di chuyển nhanh lên phía trên qua trụ dưới lá mầm, trụ gian lá mầm, lá bao mầm và giữ lại một phần ít ở mầm rễ. Với đặc tính như vậy Pretilachlor có tác động hữu hiệu để trừ nhiều loài cỏ dại.

 

Cách sử dụng

Về thời điểm phun thuốc: trong vụ Đông Xuân, phun thuốc sau khi gieo (sạ) 1-4 ngày, vụ Hè Thu phun thuốc 1-3 ngày sau khi gieo (sạ).

Chú ý: Không được phun thuốc muộn hơn 4 ngày sau lần làm đất cuối cùng; không phun thuốc khi nắng gắt trong mùa Hè. Sau khi phun thuốc, không để ruộng lúa bị khô, phải giữ ruộng đủ ẩm; sau khi phun thuốc được 3-5 ngày cần đưa nước vào ruộng, song không để nước ngập ngọn cây lúa mới mọc.

Đất phải được làm kỹ, bằng phẳng. Nếu gieo (sạ) ngầm (ruộng có nước), sau đó 2-3 ngày rút hết nước và nên phun thuốc ngay. Khi phun thuốc gặp mưa nhỏ vẫn có hiệu quả.

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Dùng dụng cụ phun thuốc BVTV hiệu quả
Người gửi: Bác Quang - Thanh Miện - Hải Dương hỏi: Tôi thầu được 1 ha lúa của bà con nông dân. Tôi thấy có nói đến máy bay phun thuốc. Vậy tôi có nên mua không? - 10/09/2021
Trả lời

DỤNG CỤ PHUN THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

Phun thuốc bảo vệ thực vật là công đoạn phổ biến trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Cây trồng luôn chịu nhiều tác động từ môi trường và đặc biệt là các loại dịch hại thường xuất hiện, gây tổn hại đến năng suất và chất lượng nông sản.
Việc phun thuốc trừ dịch hại luôn tiềm ẩn nguy hiểm cho người nông dân và môi trường. Do vậy người phun thuốc trừ dịch hại cần hiểu rõ về  dụng cụ phun thuốc trừ dịch hại để đạt hiệu quả cao và an toàn. Một số tiêu chí tiêu chuẩn đo lường sự an toàn, hiệu quả đó là không ảnh hưởng đến người phun thuốc, hạn chế lượng thuốc dư thừa gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến tài nguyên đất và nước, hiệu quả về mặt chất lượng phun, thời gian phun và chi phí để tiến hành việc phun thuốc.

Bình phun đeo vai

Đây là dụng cụ phổ biến, quen thuộc với bà con nông dân; khi nói đến công việc phun thuốc, hình ảnh liên tưởng đầu tiên trong tâm trí nhiều người chính là chiếc bình phun chứa đầy thuốc đeo trên vai.

 

Ưu điểm của việc sử dụng bình phun đeo vai là chi phí mua bình rẻ, dễ mua và dễ thực hiện; người nông dân chỉ cần mất 200-300.000 đồng là sở hữu được 1 bình phun. Nhưng việc phun thuốc bằng bình phun đeo vai luôn tiềm ẩn nguy hiểm cho người phun; việc người phun tiếp xúc trực tiếp với lượng thuốc lớn trong suốt quá trình phun gây tổn hại không nhỏ đến sức khỏe người phun. Ngoài ra, bình phun thường có khối lượng khoảng 20 kg, do đó người phun phải mang trên vai rất nặng nhọc và vất vả. Hơn hết hiệu suất không cao, đơn giản vì phụ thuộc 100% sức người, mất nhiều thời gian và nhân lực để phun thuốc. Lượng thuốc phun không đồng đều cũng là một nhược điểm cố hữu khi dùng bình phun đeo vai; người phun đa phần dựa vào cảm tính, thao tác phun cũng không thể đồng đều để đạt độ chính xác 100%.

Máy phun đeo vai

Một phiên bản nâng cấp của bình phun đeo vai là máy phun đeo vai - được cải tiến khi trang bị thêm một số thiết bị “cao cấp” hơn, cụ thể là máy bơm.

Nguyên lý hoạt động không khác gì so với bình phun đeo vai, sử dụng máy bơm cao áp và vòi phun áp lực cao giúp thuốc phun đi xa hơn và nhiều hơn.  Nhưng nhược điểm của máy phun đeo vai là giá bán đắt hơn  bình phun đeo vai; lượng thuốc phun ra nhiều hơn, ảnh hưởng xấu hơn đến người phun và gây lãng phí thuốc nhiều hơn; vẫn sử dụng sức người để phun, nên chất lượng phun không đồng đều.

 

Máy bay phun thuốc

 

 

 

Đây là phương pháp phun thuốc mới được sử dụng ở nước ta những năm gần đây. Theo xu thế phát triển công nghệ 4.0, máy bay phun thuốc ra đời và áp dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp. Với tính năng tự động phun theo lập trình, hoạt động được trong điều kiện thời tiết và môi trường khắc nghiệt; không bị cản trở bởi địa hình khó khăn và phức tạp khác nhau.  Người điều khiển chỉ cần đứng ở vị trí an toàn, mát mẻ là có thể vận hành được máy bay phun thuốc, với hệ thống trang bị radar xác định chướng ngại vật tự động, camera 360 không có điểm mù dễ dàng trong việc vận hành do đó an toàn cho người phun. Với tính năng phun đều, bám dính cao, thời gian vận hành ít hơn mà hiệu suất cao hơn nhiều lần, có thể phun được 10-20 ha/giờ bay. Có thể nói đây là bước đột phá trong nông nghiệp, giúp tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho bà con nông dân. Tuy nhiên cũng có một số bất cập là chi phí đầu tư cao, phải đầu tư tập luyện để điều khiển, diện tích cần lớn để máy bay phát huy hiệu quả cao./.

Vậy bác cân nhắc theo điều kiện của mình để lựa chọn dụng cụ phun phù hợp.

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Thuốc trừ cỏ lồng vực hiệu quả
Người gửi: Hỏi: Tôi và nhiều bà con nông dân chưa kịp trừ cỏ bằng các loại thuốc tiền nảy mầm hoặc để cỏ mọc mới sử dụng thuốc trừ cỏ, do đó muốn tìm hiểu thuốc trừ cỏ lồng vực (cỏ gạo, cỏ kê) nào cho hiệu quả cao trong vụ Mùa ? Nguyễn Văn Bình – Giao Thủy, Nam Địn - 10/09/2021
Trả lời

Thưa bác, trước hết xin cám ơn bác đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Công ty chúng tôi. Xin phép được trà lời bác như sau:

Lúa vụ Mùa gieo, cấy trong điều kiện ánh sáng và nhiệt độ rất thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng phát triển, nhưng đây cũng là điều kiện để cỏ dại sinh trưởng phát triển mạnh đặc biệt là cỏ lồng vực (cỏ gạo, cỏ kê).

Do chưa kịp trừ cỏ bằng các loại thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm, khi cỏ đã có từ 2 – 4 lá thật, bác và bà con nên dùng thuốc trừ cỏ hậu nẩy mầm Pitagor 550WP và Linhtrơ 200EW để phòng trừ cỏ dại trong ruộng lúa. Đây là 2 loại thuốc đặc trị cỏ lồng vực và cỏ đuôi phụng.

Pitagor 550WP  là hỗn hợp của hai hoạt chất Cyhalofop-butyl 150g/kg + Quinclorac 400g/kg .

Linhtrơ 200EW chứa hoạt chất Cyhalofop-Butyl 200g/l

Cách sử dụng thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm hiệu quả:

Để thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm có hiệu quả cao, quan trọng nhất vẫn là tuân thủ nguyên tắc 4 đúng trong kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

  1. Đúng thuốc: Pitagor 550WP (Bò Pitagor), Linhtrơ 200EW là những thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm cho lúa, trừ các loại cỏ và đặc trị cỏ lồng vực (cỏ gạo, cỏ kê).
  2. Đúng lúc: Phun thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm khi cỏ có đã mọc được trên 2 lá thật (khoảng 10 – 12 ngày sau cấy, sạ)
  3. Đúng liều lượng: Lượng thuốc pha và lượng nước phun theo hướng dẫn trên nhãn sản phẩm.
  4. Đúng cách: Khi phun thuốc rút cạn nước, để mặt ruộng đủ ẩm hoặc xăm xắp mặt ruộng. Sau khi phun thuốc 1 – 3 ngày cho nước vào ruộng và chăm sóc ruộng bình thường.

 

 

Lưu ý:

Bà con cần thăm đồng thực tế và phân biệt các loại cỏ khác ngoài cỏ lồng vực (cỏ gạo, cỏ kê) trong ruộng lúa để có biện pháp phòng trừ hiệu quả. Trong vụ mùa cỏ phát triển rất nhanh, nên khi cỏ đã lớn (sau khi cấy, sạ 15 – 20 ngày) nếu phun thuốc trừ cỏ cần phải tăng liều lượng của thuốc. Tùy từng mật độ cỏ, độ tuổi của cỏ để tăng liều lượng cho phù hợp.

Kính chúc bác và bà con sức khỏe, có mùa vụ bội thu !

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Châu chấu tre và biện pháp phòng trừ
Người gửi: Anh Ngọc - xã Sín Thầu (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) - 07/09/2021
Trả lời

 

Phòng trừ châu chấu tre hại cây trồng

 

 

Vòng đời của châu chấu là một năm. Trưởng thành đẻ trứng thành từng ổ dưới đất nơi vùng đất đỏ xốp và ẩm hoặc dưới lớp lá cây mục, trung bình mỗi ổ có 100-150 trứng. Châu chấu non xuất hiện từ tháng 4 khi có những trận mưa đầu mùa giúp trứng nở. Sau khi nở, châu chấu non quần tụ quanh ổ trứng, vài giờ sau thì phân tán đi ăn phá cây.

Châu chấu non có 7 tuổi, tuổi 1 và 2 thường chậm chạp, ẩn trong các đám cỏ; từ tuổi 3 trở lên hoạt động mạnh và di chuyển lên để tấn công các cây cao hơn. Thời gian châu chấu non kéo dài khoảng 2 tháng. Châu chấu trưởng thành thường xuất hiện từ tháng 6, mật độ cao và phá hại mạnh nhất vào tháng 7-8.

Thời gian châu chấu trưởng thành sống và phá hại khá dài (khoảng 5-6 tháng). Khi trưởng thành, sức ăn phá rất mạnh và di chuyển xa thành từng đàn.

Khi hết thức ăn chúng sẽ di chuyển đến phá hại trên các cây trồng khác gần bìa rừng như ngô, lúa, cỏ chăn nuôi... 

Chỉ có thể khống chế khi châu chấu mới xuất hiện, con còn non, co cụm thành đàn, chưa đủ cánh bay xa. Do vậy việc điều tra, phát hiện tổ chức bao vây diệt châu chấu non là rất cần thiết.

 

Biện pháp phòng trừ hiệu quả là: Xác định khu vực châu chấu co cụm, đẻ trứng vào khoảng cuối mùa thu để tổ chức diệt trừ. Khi những ổ nhỏ châu chấu mới nở, còn co cụm thì dùng vợt bắt thủ công đem tiêu hủy. Những ổ lớn và khi châu chấu bắt đầu phát tán gây hại lúa, ngô thì cần áp dụng biện pháp phun thuốc hóa học để tiêu diệt. Sử dụng thuốc phòng trừ châu chấu tre là: Neretox 95WP...

Tùy từng điều kiện thực tế có thể phun trừ châu chấu bằng phương pháp phun thuốc bảo vệ thực vật dạng nước hoặc dạng khói.

Phun thuốc bảo vệ thực vật ở dạng nước: Dùng máy động cơ, phun trừ chấu chấu tại các khu vực ven rừng, đường đi, đồng ruộng, trên nương...

Phun thuốc bảo vệ thực vật ở dạng khói: dùng máy phun khói FM 200 kết hợp dung môi khuếch tán Vikoenergy - FA800 và thuốc bảo vệ thực vật, phun trừ châu chấu tre lưng vàng tại các địa điểm châu chấu xuất hiện và gây hại khi châu chấu có mật độ cao, khu vực có địa hình là đồi núi dốc, cách xa nguồn nước, rừng rậm rạp, nhiều tầng tán...

Phun thuốc theo hướng dẫn trên nhãn thuốc. Nên tổ chức thành các tổ, đội dịch vụ phun tập trung, dùng bình phun ắc quy hoặc máy động cơ phun bao vây xung quanh từ ngoài vào, phun cuốn chiếu từng khu vực vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh để chúng phát tán gây hại trên diện rộng rất khó kiểm soát.

Trong quá trình tổ chức phòng trừ tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng, phun đồng loạt, tập trung, trong khu vực phun thuốc tuyệt đối không được chăn, thả gia súc, gia cầm./.

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Năm nào lúa nhà tôi cũng bị bệnh đạo ôn, bà con xung quanh cũng bị nặng. Tôi muốn hỏi những lưu ý khi phòng trừ bệnh này?
Người gửi: Chị Út Hiền - Châu Đốc, An Giang - 07/09/2021
Trả lời

Những lưu ý về bệnh đạo ôn hại lúa ở đồng bằng sông Cửu Long

Tác nhân gây bệnh: 

Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia grisea Sacc., trước kia còn gọi là Pyricularia oryzae Cav. gây hại và được ghi nhận hiện diện ở hơn 80 quốc gia trồng lúa trên thế giới.

Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh ngày càng phát sinh thêm nhiều nòi mới có độc tố cao nên khó phòng trị. Theo TS Nguyễn Thị Phong Lan và nhóm tác giả thì tại ĐBSCL có trên 40 nòi nấm Pyricularia grisea gây ra bệnh đạo ôn trên cây lúa. 

Dấu hiệu bệnh đạo ôn trên lá lúa. Ảnh: Cục BVTV.

Triệu chứng và tác hại:

Nấm bệnh có thể tấn công trên lá, thân, cổ bông, cổ gié hoặc hạt lúa.

- Trên lá: Ban đầu vết bệnh rất nhỏ, nhưng ở giữa vết bệnh, phần tế bào lá đã bị hoại tử và khô xám, sau đó vết bệnh lớn dần và có hình thoi. Khi bệnh nặng, nhiều vết bệnh liên kết với nhau làm cho toàn lá bị "cháy".

- Trên cổ lá: Bệnh tấn công ngay cổ lá giữa phiến lá và bẹ, vết bệnh có màu nâu đỏ sau chuyển qua nâu sậm, bệnh nặng làm gãy lá và lá hư.

- Trên đốt thân: Vết bệnh màu nâu làm đốt teo lại, nếu bệnh xuất hiện thời điểm lúa đang trổ thì toàn bộ bông bị lép trắng nhưng lấy tay rút lên thấy khó hơn triệu chứng lép trắng do sâu đục thân.

- Trên cổ bông, cổ gié: Bệnh tấn công ngay cổ bông hoặc cổ gié, vết bệnh màu nâu thối tóp lại làm cho toàn bộ bông hoặc từng gié bị lép. Nếu bệnh xuất hiện sớm toàn bộ bông hoặc từng gié lúa bị lép trắng.

Điều kiện phát sinh phát triển

- Bệnh đạo ôn phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết âm u, giờ nắng trong ngày ít, sáng sớm có sương mù hay trời có mưa phùn, nhiệt độ thích hợp nhất trong khoảng từ 18 – 26 độ C. Bệnh đạo ôn thường gây hại nặng nhất trong vụ đông xuân, nhưng nếu ở vụ hè thu và thu đông khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho nấm bệnh phát sinh phát triển như mưa bão kéo dài, bệnh sẽ vẫn gây hại nặng.

- Các yếu tố như giống nhiễm (Jasmine 85, Nàng Hoa 9, VD 20, RTV, OM 4900, OM 5451…), sạ dày, bón thừa phân đạm, lá lúa nằm ngang, phiến lá rộng, ruộng thiếu nước, cỏ dại nhiều là điều kiện thuận lợi để nấm phát sinh, phát triển và gây bệnh nặng.

Đặc tính sinh học

Chu trình phát triển của bệnh đạo ôn từ lúc bào tử mới xâm nhập đến khi phát tán, lây lan mạnh.

- Đối với bào tử gây bệnh đạo ôn lúa, nếu gặp điều kiện thuận lợi thì 24 giờ sau khi tiếp xúc với cây lúa, bào tử sẽ nảy mầm và bắt đầu xâm nhập vào bên trong mô cây.

- Khoảng 48 giờ sau bệnh xuất hiện vết chấm kim. Từ 5 - 7 ngày sau khi xâm nhập, nấm đã sản sinh bào tử mới và tiếp tục lây lan. Mỗi vết bệnh hình mắt én phóng thích 2.000 - 6.000 bào tử/ngày và lây lan rất nhanh, ruộng có thể hư toàn bộ.

- Bào tử sinh ra ở các lá bên trên có thể nhiễm vào gié lúa, hạt lúa ở giai đoạn trỗ. Do đó phòng trị bệnh đạo ôn lá không tốt thì giai đoạn lúa trỗ ruộng lúa rất dễ bị nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông, cổ gié...

- Điều kiện để bào tử phóng thích là nhờ nước hoặc giọt sương, còn phương tiện để bào tử lây lan xa là nhờ gió. Tuy nhiên, nếu nước nhiều, trời mưa lớn thì bào tử chậm phóng thích và ít lây lan 

Biện pháp phòng trừ: 

Để bảo vệ lúa Hè Thu ở giai đoạn đòng - trỗ: Cần phun thuốc phòng ngừa khi lúa trỗ lẹt xẹt và lúc lúa trỗ đều.

Lúa Thu Đông - Mùa:

- Làm đất kỹ, vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại quanh bờ và mương tưới, tạo điều kiện cho đất có thời gian nghỉ ngơi hoặc luân canh cây trồng... để cắt nguồn bệnh.

- Chọn giống kháng: Tuy nhiên hiện nay do các giống chất lượng cao đáp ứng được xuất khẩu ít kháng hoặc chỉ kháng tạm thời nên yếu tố này tùy thuộc vào điều kiện từng vùng mà xem xét.

- Không gieo sạ quá dày để cây lúa được khỏe mạnh, kháng được bệnh (áp dụng theo lượng giống khuyến cáo của chương trình IPM, 1P5G, 3G3T). Mật độ gieo sạ tốt nhất là 80 - 100 kg/ha.

- Bón phân cân đối hợp lý, không bón thừa đạm bởi khi lúa bị thừa đạm, lá có màu xanh đậm và phiến lá sẽ không đứng thẳng mà nằm ngang khiến lá rất khó quang hợp. Đây là điều kiện lý tưởng để nấm bệnh phát triển.

- Tăng cường bón phân có chứa Canxi, Silic để giúp lúa cứng cây (thành lóng dày, bẹ lúa ôm sát lóng), lá lúa dày đứng thẳng (lá lúa không nằm ngang) để hạn chế lá lúa “hứng” bào tử nấm và không cho bào tử nấm nảy mầm xâm nhập vào bên trong.

Đạo ôn là bệnh cực kỳ nguy hiểm trên lúa, cần đặc biệt giám sát đồng ruộng để sớm phòng trừ. Ảnh: TL.

 

- Quản lý không để trong ruộng có nhiều cỏ vì cỏ dại là ký chủ quan trọng của nấm gây bệnh đạo ôn.

- Theo dõi ruộng thường xuyên, nhất là những giai đoạn cây lúa mẫn cảm với bệnh (từ giai đoạn lúa con gái đến đòng trỗ), không để ruộng lúa bị thiếu nước.

- Khi thấy bệnh chớm xuất hiện, không bón thêm phân đạm, các loại phân bón lá, thuốc kích thích sinh trưởng và cần phun thuốc phòng trừ.

Cần dùng một trong số các loại thuốc đặc trị sau: Kasoto 200SC,  Kabim 30WP, Fuji-One 40EC.

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Rệp sáp hại cà phê dùng thuốc gì hiệu quả
Người gửi: Anh Cù Quốc Đại (TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai) - 07/09/2021
Trả lời

RỆP SÁP HẠI CÀ PHÊ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

 

Rệp sáp là một trong những dịch hại nguy hiểm vì không những gây thiệt hại lớn đến năng suất mà còn làm giảm chất lượng của hạt cà phê, ảnh hưởng đến giá trị kinh tế mang lại.

Triệu chứng gây hại:

Rệp sáp gây hại bằng cách chích hút nhựa quả cà phê, làm quả non không phát triển được, cây thường còi cọc, kém phát triển.

Khi rệp sáp gây hại nặng thường xuất hiện lớp nấm muội đen bao phủ trên các chùm quả, cành mang quả và lá, làm giảm khả năng quang hợp của lá; lá úa vàng; quả khô dần rồi rụng nhiều.

Đặc điểm hình thái, sinh thái:

Rệp sáp hại cà phê có tên khoa học là Planococcus kraunhiae. Cơ thể rệp có màu hồng nhưng được bao bọc bên ngoài bằng một lớp sáp màu trắng nên được gọi là rệp sáp.

Rệp sáp hại quả thường xuất hiện từ sau khi hoa cà phê nở cho đến hết vụ thu hoạch. Rệp sáp gây hại nặng trong các tháng mùa khô và đầu mùa mưa, sau đó giảm nhiều trong khoảng thời gian giữa mùa mưa. Rệp sáp cũng có mối quan hệ cộng sinh với các loài kiến tương tự rệp vảy xanh, vảy nâu.

Vòng đời rệp sáp từ 26 - 40 ngày, trong đó giai đoạn trứng kéo dài từ 5 - 7 ngày. Rệp đẻ trứng vào kẽ lá, chùm nụ - hoa, chùm quả non. Một con rệp mẹ có thể đẻ đến 500 trứng theo từng lứa. Rệp non sau khi nở 2 - 3 ngày thì bò ra và nhanh chóng tìm nơi sống cố định.

 

 

Biện pháp phòng trừ:

Để phòng trừ rệp sáp hại quả có hiệu quả cao cần thường xuyên kiểm tra vườn cà phê, đặc biệt vào các tháng mùa khô để phát hiện sự xuất hiện của rệp sáp và có biện pháp xử lý kịp thời.

Biện pháp canh tác:

+ Cắt tỉa cành thông thoáng, làm sạch cỏ dại; chăm sóc để cây cà phê phát triển tốt, hạn chế sự gây hại của rệp sáp.

+ Khi rệp mới xuất hiện với tỷ lệ cành bị hại còn thấp có thể cắt và đốt cành bị rệp.

 

Biện pháp hóa học:

Khi bị nặng, tiến hành phun một số thuốc như: Diditox 40EC, Subatox 75EC

 

 

Khi phun thuốc cần chú ý phun thật kỹ vào các chùm quả sao cho thuốc có thể tiếp xúc được trứng và rệp non.

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Lúa nhà tôi bị lùn xuống là bệnh gì?
Người gửi: Chú Ngọc - Nam Định - 07/09/2021
Trả lời

Bệnh lùn sọc đen hại lúa và biện pháp phòng trừ

Tác nhân gây bệnh:

Tác nhân gây bệnh lùn sọc đen hại lúa là virus lùn sọc đen phương Nam (Southern Rice Black Streaked Dwarf Virus - SRBSDV) thuộc nhóm Fijivirus-2, họ Reoviridae và rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) là môi giới lây truyền virus này. 

Triệu chứng lúa bị nhiễm bệnh LSĐ. Nguồn: Cục BVTV.

Triệu chứng và tác hại:

Cây lúa bị bệnh có triệu chứng chung là thấp lùn, lá xanh đậm hơn bình thường. Lá lúa bị bệnh có thể xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá. Gân lá ở mặt sau bị sưng lên. Khi cây còn non, gân chính trên bẹ lá cũng bị sưng phồng.

Từ giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây bị bệnh thường nảy chồi trên đốt thân và mọc nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân xuất hiện nhiều u sáp và sọc đen. Khi bị bệnh nặng cây lúa không trổ bông được hoặc trỗ bông không thoát và hạt thường bị đen. Ở giai đoạn trỗ bông, triệu chứng bệnh có thể xuất hiện ở tất cả các dảnh trên cùng một khóm, hoặc chỉ ở một số dảnh, các dảnh khác vẫn phát triển bình thường.

Côn trùng môi giới truyền bệnh và cơ chế lan truyền của bệnh:

Rầy lưng trắng là côn trùng môi giới chính truyền bệnh lùn sọc đen hại lúa. Cả rầy non và rầy trưởng thành đều truyền bệnh.

Rầy lưng trắng sau khi đã nhiễm virus có thể truyền bệnh đến khi chết. Virus không truyền qua trứng rầy, do vậy ấu trùng nở ra từ các trứng này cũng không mang mầm bệnh.

Bệnh không truyền qua hạt giống lúa, không truyền qua đất và tiếp xúc giữa cây bệnh với cây khỏe. 

Triệu chứng lúa bị bệnh lùn sọc đen. Nguồn: Cục BVTV.

Biện pháp phòng trừ: 

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị bệnh lùn sọc đen. Để hạn chế thấp nhất tác hại của bệnh, phải thực hiện tốt việc phòng bệnh.

- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom tiêu hủy triệt để cây bệnh, rơm rạ, lúa chét và cỏ dại. Làm đất kỹ, làm ải đối với ruộng cao, làm dầm đối với ruộng trũng. Sử dụng vôi bột để rắc xung quanh bờ ruộng và toàn bộ ruộng cấy (20-25 kg/sào).

- Sử dụng giống lúa có chất lượng tốt, những giống nhiễm rầy phải tuân thủ theo quy trình thâm canh, quản lý rầy nghiêm ngặt.

- Gieo cấy tập trung, đúng lịch, thời vụ theo hướng dẫn. 

- Áp dụng các biện pháp thâm canh tổng hợp, bón phân cân đối, không bón thừa đạm để giúp cây lúa khỏe, tăng sức đề kháng và chống chịu, hạn chế sự phát sinh gây hại của các đối tượng sâu bệnh.

- Thực hiện triệt để và đồng bộ các biện pháp phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ.

- Đối với vùng đã có mầm bệnh từ trước, cần chủ động xử lý trước khi gieo (sạ) bằng thuốc đặc hiệu Sutin 50SC; Sutin 50WG, Sutin 50WP, Bassa 50EC, …để trừ rầy ngay từ giai đoạn đầu của cây lúa.

- Áp dụng các biện canh tác đồng bộ để giúp cây lúa khoẻ, nhất là giai đoạn lúa non để tăng sức đề kháng của cây.

 

Trong giai đoạn lúa từ phân hóa đòng trở đi, cần thường xuyên quan sát kỹ ruộng lúa để sớm phát hiện rầy lưng trắng. Khi phát hiện có rầy lưng trắng, tiến hành phun thuốc trừ rầy ở ruộng đó và các ruộng xung quanh, dùng thuốc trừ rầy nội hấp hoặc thuốc trừ rầy tiếp xúc Bassa 50EC.

Việc tiêu hủy cả ruộng lúa bị bệnh chỉ thực hiện khi ruộng lúa không còn khả năng cho năng suất (nhiễm nặng, khó phục hồi được). Trước khi tiêu hủy cần phun thuốc trừ rầy bằng các loại thuốc tiếp xúc; tiêu hủy và tiến hành cấy, gieo thẳng lại nếu còn thời gian.

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Nhận biết sớm bệnh đạo ôn hại lúa? Phòng trừ bằng cách nào?
Người gửi: Chị Hồng - Yên Bái - 07/09/2021
Trả lời

BỆNH ĐẠO ÔN HẠI LÚA VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

         

1. Triệu chứng và tác nhân gây hại: Bệnh do nấm Pyricularia oryzae gây ra. Nấm bệnh có thể tấn công trên lá, thân, cổ bông, cổ gié hoặc hạt lúa. Trên lá, ban đầu vết bệnh rất nhỏ, phần thịt lá ở giữa vết bệnh đã bị hoại tử và biến thành khô xám; sau đó vết bệnh lớn dần và có hình thoi, đây là vết bệnh đặc trưng của đạo ôn. Khi bị nặng, nhiều vết bệnh liên kết lại với nhau làm cho toàn lá bị "cháy". Nguy hiểm nhất là khi nấm tấn công trên cổ bông và cổ gié, làm cho toàn bộ bông hoặc gié bị khô và gãy gục.

 2. Điều kiện phát sinh phát triển: Trong điều kiện trời âm u, ít nắng, thời tiết mát, ẩm độ cao, kết hợp đêm có sương mù nhiều giúp bệnh phát triển mạnh. Bệnh thường gây hại nặng trên giống lúa nhiễm bệnh, gieo sạ dày, bón phân không cân đối, thừa đạm.

           3. Biện pháp quản lý bệnh đạo ôn  đạt hiệu quả:

             - Chọn giống kháng bệnh hoặc ít nhiễm để gieo trồng (tham khảo cán bộ khuyến nông của địa phương, hoặc trên tài liệu, trên thông tin của truyền thông...). Xử lý hạt giống trước khi gieo sạ.

            - Trước khi gieo trồng, vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch tàn dư cây bệnh vụ trước (trục và dìm kỹ gốc rạ), dọn sạch cỏ dại quanh bờ.

            - Không gieo (sạ), cấy quá dày để cây lúa được khỏe mạnh, kháng được bệnh (áp dụng theo lượng giống khuyến cáo của chương trình IPM).

            - Bón phân cân đối hợp lý, không bón thừa đạm, nên sử dụng phân bón theo bảng so màu lá lúa (khi lúa bị thừa đạm, lá có màu xanh đậm và sẽ không đứng thẳng mà nằm ngang).

            - Khi điều kiện thời tiết phù hợp cho bệnh phát sinh, phát triển như đã nêu ở trên, có thể chủ động phòng ngừa trước như: Không bón dư phân đạm, tăng cường phân kali, chủ động phun thuốc đặc trị.

            - Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, khoanh vùng thống kê diện tích nhiễm bệnh, khi ruộng chớm nhiễm bệnh cần giữ đủ nước; đối với diện tích nhiễm bệnh nặng cần vơ bỏ lá bệnh, đem tiêu hủy, đồng thời sử dụng các loại thuốc đặc trị để phòng trừ theo hướng dẫn trên nhãn thuốc.

 

           - Sử dụng một trong số các loại thuốc đặc hiệu: Kasoto 200SC, Kabim 30WP, Fuji-One 40WP, Difusan 40EC.

 *Chú ý khi phun xịt thuốc: Phun đủ lượng nước với bec phun tơi sương, phun khi ruộng đã ráo sương hoặc ráo nước sau mưa. Có thể phun trước khi lúa trổ hoặc sau khi lúa đã trổ đều. Chú ý tuân thủ nguyên tắc 4 đúng khi phun: Đúng thuốc; đúng lúc; đúng liều lượng; đúng cách.

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Bệnh khô vằn và biện pháp phòng trừ
Người gửi: Hải - Thái Bình - 07/09/2021
Trả lời

BỆNH KHÔ VẰN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

 

1. Triệu chứng bệnh

Bệnh khô vằn gây hại chủ yếu ở bẹ lá, phiến lá và cổ bông. Các bẹ lá sát mặt nước hoặc bẹ lá già ở dưới gốc thường là nơi phát sinh bệnh đầu tiên.

Vết bệnh ở bẹ lá lúc đầu là vết đốm hình bầu dục màu lục tối hoặc xám nhạt, sau lan rộng ra thành dạng vết vằn da hổ, dạng đám mây. Khi bệnh nặng, cả bẹ và phần lá phía trên bị chết lụi.

Vết bệnh ở lá tương tự như ở bẹ lá, thường vết bệnh lan rộng ra rất nhanh chiếm hết cả bề rộng phiến lá tạo ra từng mảng vân mây hoặc dạng vết vằn da hổ. Các lá già ở dưới hoặc lá sát mặt nước là nơi bệnh phát sinh trước sau đó lan lên các lá ở trên.

Vết bệnh ở cổ bông thường kéo dài bao quanh cổ bông, hai đầu vết bệnh có màu xám loang ra, phần giữa vết bệnh màu lục sẫm co tóp lại.

Trên vết bệnh ở vị trí gây hại đều xuất hiện hạch nấm màu nâu, hình tròn dẹt hoặc hình bầu dục nằm rải rác hoặc thành từng đám nhỏ trên vết bệnh. Hạch nấm rất dễ dàng rơi ra khỏi vết bệnh và nổi trên mặt nước ruộng.

https://vietyen.bacgiang.gov.vn/images/22791/153/994/197/980/7/1539941979807.png

Hình ảnh: Bệnh khô vằn hại lúa

2. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh khô vằn do nấm Rhizoctonia solani gây nên, ngoài hại trên cây lúa loại nấm này còn gây hại trên một số loài cây trồng khác như đậu tương, ngô, mía, đậu đỗ...

3. Đặc điểm phát sinh phát triển

Bệnh khô vằn phát sinh mạnh trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao. Nhiệt độ thích hợp cho bệnh phát triển khoảng 24-32 oC và ẩm độ bão hoà hoặc lượng mưa cao thì bệnh phát sinh phát triển mạnh, tốc độ lây lan nhanh. Bệnh thường phát sinh trước tiên ở các bẹ và lá già sát mặt nước hoặc ở dưới gốc. Tốc độ lây lan lên các lá phía trên phụ thuộc rất nhiều và thời tiết mưa nhiều, lượng nước trên đồng ruộng quá cao, đặc biệt ở các ruộng nhiều nước, gieo cấy quá dày, cấy nhiều dảnh.

Sự phát triển của bệnh khô vằn ở thời kỳ đầu từ cây mạ đến đẻ nhánh có mức độ bệnh ít. Giai đoạn làm đòng - trỗ đến chín sáp là thời kỳ nhiễm bệnh nặng. Ở miền Bắc nước ta bệnh khô vằn gây hại trong vụ Mùa nặng hơn ở vụ Đông Xuân.

Sự phát sinh phát triển của bệnh có liên quan nhiều tới chế độ nước trên đồng ruộng và chế độ phân bón. Bón phân đạm nhiều, bón đạm lai rai, bón thúc đòng muộn bệnh sẽ phát sinh phát triển mạnh hơn. Bón phân kali có tác dụng  giảm mức độ nhiễm bệnh của cây.

Nguồn bệnh chủ yếu là hạch nấm tồn tại ở trên đất ruộng và sợi nấm ở gốc rạ và lá bị bệnh còn sót lại sau thu hoạch. Hạch nấm có thể sống một thời gian dài sau thu hoạch, nảy mầm thành sợi nấm và xâm nhiễm gây bệnh cho vụ sau. Quá trình xâm nhiễm lặp lại thường xảy ra qua tiếp xúc giữa hạch nấm và bẹ lá úa. Giống lúa lai nhiễm bệnh nặng hơn so với các giống lúa thuần.

4. Biện pháp phòng trừ

   Phòng trừ bệnh khô vằn chủ yếu là áp dụng tổng hợp các biện pháp như cày sâu để vùi hạch nấm, gieo cấy đúng thời vụ, mật độ gieo cấy hợp lý, bón phân đầy đủ, bón theo nhu cầu của cây và bón cân đối giữa các loại phân để tăng cường tính chống chịu của cây.

Hệ thống tưới tiêu chủ động và không để mức nước quá cao trong trường hợp bệnh đang lây lan mạnh.

Sử dụng một trong các loại thuốc để hạn chế sự phát triển của bệnh như: Vida 5WP, Moren 20WP, Tiptop 250EC, Namotor 100SC.

Sử dụng thuốc hoá học phòng trừ bệnh chỉ đem lại hiệu quả cao khi bệnh mới phát sinh ở những bẹ lá già và cần phun ướt đẫm đều trên cây.

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Câu hỏi
Sâu cuốn lá hại lúa
Người gửi: Anh Nam - Thái Bình - 20/05/2021
Trả lời

Sâu cuốn lá hại lúa có 2 loài:

1. Sâu cuốn lá nhỏ (chủ yếu)

Tên khoa học: Cnaphalocrosis medinalis

Họ: Pyralidae

Bộ: Lepidoptera

Triệu chứng gây hại:

 

Lá lúa bị cuốn, sâu non ăn biểu bì mặt trên và diệp lục của lá dọc theo gân lá tạo thành những vệt trắng dài, các vệt này có thể nối liền với nhau thành từng mảng làm giảm diện tích quang hợp và đặc biệt là trên lá đòng hoặc lá công năng sẽ làm giảm năng suất rõ rệt.

Đặc điểm hình thái: 

- Ngài: mép trước của cánh trước có màu nâu vàng, có hai vệt xiên màu nâu đen từ trên mép cánh xuống 2/3 cánh. 

- Trứng: Hình bầu dục có vân mạng lưới rất nhỏ, đẻ từng quả ở mặt trên và mặt dưới lá, trứng mới đẻ có màu hơi đục khi gần nở chuyển màu ngà vàng.

- Sâu non: Sâu non có 5 tuổi, mới mở màu trắng trong, đầu có màu nâu đen, khi lớn cơ thể chuyển màu xanh lá mạ - màu vàng, đầu màu nâu sáng.

- Nhộng có  màu  vàng - nâu đậm, thường thấy trong lá bị cuốn.

Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại:

* Vòng đời:

Vòng đời sâu cuốn lá nhỏ từ 28 - 36 ngày. 

- Thời gian đẻ trứng:  6 - 7 ngày;

- Sâu non: 14 - 16 ngày;

- Nhộng: 6 - 7 ngày;

- Trưởng thành sống: 2 - 6 ngày.

* Đặc điểm sinh học và gây hại:

Ngài trưởng thành hoạt động đẻ trứng về đêm, ban ngày ẩn nấp, có xu tính mạnh với ánh sáng, con cái mạnh hơn con đực. Ngài thường tìm những ruộng xanh tốt để đẻ trứng, mỗi con cái có thể đẻ trên 100 quả trứng, rải rác trên lá lúa. 

 

Sâu non có 5 tuổi: Tuổi 1 rất linh hoạt có thể bò khắp trên lá, chui vào lá nõn, mặt trong bẹ lá hoặc bao lá cũ; tuổi 2, 3 trở đi nhả tơ để khâu 2 mép lá cuốn thành tổ nằm trong đó gây hại. Sâu có khả năng di chuyển ra khỏi bao cũ để phá hại lá mới, mỗi con sâu non có thể phá hại từ 5 -9 lá, thời gian di chuyển thường vào buổi chiều (từ 6 giờ - 9 giờ tối), ngày trời mưa hoặc râm mát thì có thể di chuyển bất cứ lúc nào trong ngày. Sâu non đẫy sức chuyển màu vàng hồng chui ra khỏi bao bò xuống gốc lúa, bẹ lá dệt kén mỏng hoá nhộng hoặc hoá nhộng ngay trong bao cũ.

Biện pháp phòng trừ:

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại,

+ Điều chỉnh mật độ cấy phù hợp,

+ Bón phân cân đối, hợp lý, đặc biệt bón phân đạm vừa phải.

- Biện pháp sinh học: 

+ Chú ý bảo vệ hoặc bổ sung thiên địch như ong mắt đỏ Trichogramma sp., nấm… Ký sinh thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ rất đa dạng từ các loài ong, nấm, các loài ăn thịt… 

- Biện pháp hóa học:

- Dùng các loại thuốc: Clever 150SC, Clever 300WG, Neretox 95WP, Patox 95SP, Subatox 75EC, Trebon 10EC....phun khi sâu còn tuổi 1-2, sâu đã lớn cần phá bao lá trước khi phun mới có hiệu quả.

- Thời điểm phun thuốc thích hợp nhất:

+ Sự phát dục của sâu cuốn lá nhỏ phụ thuộc vào sự sinh trưởng, phát triển của từng trà lúa, trên cùng một cánh đồng có nhiều trà lúa cấy ở các thời vụ khác nhau thì trứng sâu cuốn lá nhỏ nở rộ cũng ở các thời điểm khác nhau. Những ruộng lúa cấy trước, nhanh tốt; ruộng lúa thừa đạm, lá xanh đen, những ruộng gần khu dân cư, gần đường quốc lộ, khi trời tối sẽ có nhiều ánh sáng nên mật độ bướm sẽ cao hơn, trứng sâu cũng nở sớm hơn.

+ Phun sau khi ngớt bướm 2 - 3 ngày (thăm đồng 2 ngày/lần, xua ngọn lá lúa kiểm tra thấy mật độ bướm giảm đột ngột so với thời điểm bướm ra rộ). Khi lúa xuôi trái, sâu cuốn lá nhỏ không phá hại nữa mặc dù mật độ bướm rất cao trước đó.

+ Chỉ phun trừ sâu Cuốn lá nhỏ trên những diện tích có mật độ sâu non đến ngưỡng phòng trừ (từ 50 con/m2 trở lên đối với giai đoạn đẻ nhánh, từ 20 con/m2 trở lên đối với giai đoạn làm đòng).

2. Sâu cuốn lá lớn (gây hại ít hơn)

Tên khoa học: Parnara guttata Bremer et Grey

Họ: Hesperiidae

Bộ: Lepidoptera

Triệu chứng gây hại của sâu cuốn lá lớn hại lúa:

Sâu non ăn khuyết lá, có thể ăn trụi bộ lá, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây lúa. Cây lúa bị hại thường thấp nhỏ, có đòng ngắn, nếu trỗ thoát thì thời gian chín của cây lúa kéo dài hoặc đòng bị uốn cong, không trỗ thoát hay bị gẫy gập, không nở hoa kết hạt.

Đặc điểm hình thái của sâu cuốn lá lớn hại lúa:

- Ngài: thân có màu đen lẫn vàng kim; đầu và ngực to bằng nhau; râu đầu mọc gần cánh mắt kép và có hình gậy (phía cuối phình to có một móc câu); cánh trước màu nâu tối, gần giữa có 8 chấm trắng to nhỏ khác nhau xếp hình vòng cung; cánh sau có màu nâu đen, gần mép ngoài có 4 đốm tắng xếp thành một đường.

- Trứng: hình bán cầu, đỉnh bằng, giữa hơi lõm, mới đẻ có màu tro sau có màu nâu vàng, bề mặt có vân, khi sắp nở có màu đen tím.

- Sâu non: mới nở màu xanh lục, đầu lớn hơn thân. Khi sâu nở ra ăn vỏ trứng rồi bò ra đầu, mép lá nhả tơ dệt thành bao nấp ở đó. Sâu tuổi lớn hơn tiếp tục dệt các lá kế cận thành một bao lớn nằm ở trong gặm lá.

- Nhộng: hình đầu đạn, đầu bằng, đít nhọn màu vàng nhạt. Khi sắp vũ hóa thì nhộng có màu đen, vòi kéo dài ra khỏi mút cánh tới đốt bụng thứ 2. Sâu khi hóa nhộng nhả tơ dệt kén ở phía dưới khóm giữa các thân cây lúa.

Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại:

* Vòng đời:

Vòng đời của sâu cuốn lá lớn từ 32-40 ngày:

+ Thời gian trứng: 4 ngày.

+ Thời gian sâu non: 18-19 ngày.

+ Thời gian nhộng: 6-7 ngày.

+ Thời gian bướm: 4-5 ngày.

* Đặc điểm sinh học và gây hại:

Bướm đẻ trứng vào buổi sáng và đẻ rải rác ở mặt sau lá gần gân chính, mỗi lá từ 1-6 quả, một bướm cái có thể đẻ 120 quả trứng. Sau khi vũ hóa 20 phút là bướm có thể bay đi kiếm ăn. Bướm bay nhanh từng đoạn ngắn theo đường gấp khúc. Thường sau khi giao phối một ngày (cũng có thể sau 2 giờ) sau thì bướm sẽ đẻ trứng. Một năm sâu cuốn lá lớn phát sinh 6-7 lứa. Điều kiện hơi nóng bức và ẩm là thích hợp cho sâu phát sinh gây hại.

Sâu non nhả tơ cuốn lá thành bao lớn và cắn khuyết lá. Bị hại nặng cây lúa có thể trụi hẳn lá làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển. Cây bị hại thường thấp nhỏ, đòng ngắn, thời gian lúa chín kéo dài hoặc đòng bị cuốn cong, không trỗ thoát hoặc gãy gập, không nở hoa kết hạt.

Sâu cuốn lá lớn phát sinh, gây hại từ giai đoạn lúa mới cấy cho đến khi lúa chín. Vào những năm mưa nhiều, thời tiết mát mẻ, sâu phát sinh nặng. Sâu cuốn lá lớn phân bố ở tất cả các vùng trồng lúa ở trong nước và trên thế giới. Ở Việt Nam, vùng trung du và miền núi bị hại nặng hơn vùng đồng bằng, vùng có bố trí cơ cấu cây trồng phức tạp cũng dễ bị hại nặng.

Biện pháp phòng trừ của sâu cuốn lá lớn hại lúa:

- Biện pháp canh tác, kỹ thuật:

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại, tiêu diệt lúa chét,

+ Điều chỉnh mật độ cấy phù hợp,

+ Bón phân cân đối, hợp lý, đặc biệt bón phân đạm vừa phải.

- Biện pháp sinh học: Bảo vệ các thiên địch trên đồng ruộng.

- Biện pháp hóa học: Dùng các loại thuốc như thuốc dùng để trừ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa.

- Thời điểm phun thuốc thích hợp nhất:

Cần thiết thì dùng thuốc BVTV phun vào thời điểm mà chủ yếu gồm sâu non tuổi 1, tuổi 2. Nếu có điều kiện, trước khi phun thì dùng cành tre kéo trên mặt ruộng lúa làm tung tổ sâu để làm tăng hiệu quả của thuốc

 

 

 

 

Xem thêm
Ẩn bớt
Gửi câu hỏi
3.45426 sec| 2756.914 kb